Tuesday, July 23, 2013

Thức ăn của tế bào UNG THƯ

THỨC ĂN CỦA TẾ BÀO UNG THƯ

Một trong những bệnh viện nổi tiếng nhất trên thế giới thay đổi quan điểm của mình về bệnh ung thư. Bệnh viện Johns Hopkins là một bệnh viện trường đại học nằm ở Baltimore, Maryland ở Hoa Kỳ.


Được thành lập nhờ tài trợ từ John Hopkins, ngày hôm nay nó là một trong những bệnh viện nổi tiếng nhất trên thế giới và năm thứ 17 liên tiếp được phân loại ở vị trí đầu tiên trong bảng xếp hạng của các bệnh viện tốt nhất tại Hoa Kỳ.

Sau nhiều năm nói với mọi người hóa trị liệu là cách duy nhất để điều trị và loại bỏ ung thư, Bệnh viện Johns Hopkins đã bắt đầu nói với mọi người rằng có những lựa chọn thay thế khác với hóa trị liệu: một cách hiệu quả để chống lại ung thư là không nuôi các tế bào ung thư với các chất dinh dưỡng cần thiết cho nó để nó không phát triển được.

THỨC ĂN CỦA TẾ BÀO UNG THƯ


a. ĐƯỜNG : là một loại thực phẩm của bệnh ung thư. Không tiêu thụ đường là cắt bỏ một trong những nguồn quan trọng nhất của các tế bào ung thư. Có sản phẩm thay thế đường như saccharin, nhưng chúng được làm từ Aspartame và rất có hại. Tốt hơn nên thay thế đường bằng mật ong Manuka hay mật đường nhưng với số lượng nhỏ. Muối có chứa một hóa chất phụ gia để xuất hiện màu trắng. Một lựa chọn tốt hơn cho muối trắng là muối biển hoặc các loại muối thực vật.


b. SỮA : làm cho cơ thể sản xuất chất nhầy, đặc biệt là trong đường ruột. Tế bào ung thư ăn chất nhầy. Loại bỏ sữa và thay thế bằng sữa đậu nành, các tế bào ung thư không có gì để ăn, vì vậy nó sẽ chết.


c. THỊT ĐỎ : các tế bào ung thư trưởng thành trong môi trường axit. Một chế độ ăn uống là thịt đỏ có tính axit, tốt nhất là ăn cá, và một chút thịt gà thay vì thịt bò hay thịt heo. Hơn nữa, thịt chứa kháng sinh, hormon và ký sinh trùng, rất có hại, đặc biệt đối với những người mắc bệnh ung thư. Protein thịt khó tiêu hóa và đòi hỏi nhiều enzym. Thịt không tiêu hóa ở lại và hư hỏng trong cơ thể dẫn tới tạo ra các độc tố nhiều hơn.


GÓP PHẦN GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ


a) Một chế độ ăn uống gồm 80% rau quả tươi và nước ép, ngũ cốc, hạt, các loại hạt quả, quả hạnh nhân và một ít loại trái cây đặt cơ thể trong môi trường kiềm. Chúng ta chỉ nên tiêu thụ 20% thực phẩm nấu chín, bao gồm cả đậu. Nước ép rau tươi cung cấp cho cơ thể co-enzyme có thể dễ dàng hấp thu và ngấm vào các tế bào 15 phút sau khi được tiêu thụ để nuôi dưỡng và giúp định hình các tế bào khỏe mạnh. Để có được các enzyme sống, giúp xây dựng các tế bào khỏe mạnh, chúng ta phải cố gắng uống nước ép rau (tất cả, bao gồm cỏ linh thảo) và ăn nhiều rau quả tươi 2 hoặc 3 lần mỗi ngày.


b) Không nên dùng CÀ PHÊ, TRÀ và SÔ CÔ LA có chứa nhiều caffeine. TRÀ XANH là một lựa chọn tốt hơn vì có chất chống ung thư. Tốt nhất là uống nước tinh khiết hoặc nước lọc để tránh các chất độc và kim loại nặng trong nước thường. Không uống nước cất vì nước này có chứa axit.


c) Các thành các tế bào ung thư được bao phủ bởi một loại protein rất cứng. Khi không ăn thịt, những thành tế bào phóng thích nhiều enzim hơn, tấn công các pro tê in của các tế bào ung thư và cho phép hệ thống miễn dịch tiêu diệt các tế bào ung thư.


d) Một số chất bổ sung giúp xây dựng lại hệ thống miễn dịch: Floressence, Essiac, chất chống oxy hóa, vitamin, khoáng chất, EPA, dầu cá … giúp các tế bào để chiến đấu và tiêu diệt các tế bào ung thư. Các chất bổ sung khác như vitamin E được biết đến bởi vì nó gây ra apoptose, cách bình thường của cơ thể để loại bỏ các tế bào vô dụng hoặc bị lỗi.

e) Ung thư là một căn bệnh của cơ thể, tâm trí và tinh thần. Một thái độ hoạt động và tích cực hơn sẽ giúp các bệnh nhân ung thư chiến đấu và sống còn. "Giận dữ và không hiểu biết, không tha thứ sẽ đặt cơ thể vào tình trạng căng thẳng và một môi trường axit".
Học để có tâm hồn khả ái và yêu thường với một thái độ sống tích cực là rất có lợi cho sức khỏe. Học thư giãn và tận hưởng cuộc sống.

f) Các tế bào ung thư không thể sống trong một môi trường dưỡng khí (oxygénée). Luyện tập thể dục hàng ngày, hít thở sâu giúp lấy thêm nhiều oxy vào các tế bào. Liệu pháp oxy là một yếu tố giúp tiêu diệt các tế bào ung thư.


1. Không để hộp nhựa trong lò vi sóng.

2. Không để chai nước trong tủ lạnh.
3. Không để tấm nhựa trong lò vi sóng.

g) Các hoá chất như dioxin gây ung thư, đặc biệt là ung thư vú. Dioxin rất có hại, đặc biệt là đối với các tế bào cơ thể.


Đừng để trong tủ lạnh chai nước nhựa bởi vì nhựa sẽ "đổ mồ hôi" dioxin và làm nhiễm độc nước uống.


Gần đây, Tiến sĩ Edward Fujimoto, Giám đốc chương trình Wellness ở bệnh viện Castle, xuất hiện trong một chương trình truyền hình giải thích sự nguy hiểm của dioxin.

Ông nói rằng chúng ta không nên đặt hộp nhựa trong lò vi sóng, đặc biệt là các loại thực phẩm có chứa chất béo. Ông nói rằng do sự kết hợp của chất béo và nhiệt lượng cao, nhựa sẽ truyền dioxin vào thực phẩm và do đó vào cơ thể chúng ta. Thay vào đó, bạn có thể sử dụng thủy tinh như Pyrex hoặc gốm sứ để đun nấu.

" Hãy vui lòng chia sẻ bài viết này với tất cả bạn bè của bạn. "

http://m.hopkinsmedicine.org/kimmel_cancer_center/news_events/featured/cancer_update_email_it_is_a_hoax.html

Thursday, March 21, 2013

Nhiều người Việt chưa biết cách đánh răng


Nhiều người Việt chưa biết cách đánh răng

Nhiều người đánh răng theo kiểu kéo ngang tới lui, thậm chí vệ sinh răng xong mới ăn sáng... Tình trạng này khiến 90% dân số Việt Nam mắc các bệnh răng miệng.
Thông tin đưa ra tại sự kiện hưởng ứng ngày sức khỏe răng miệng thế giới diễn ra tại Hà Nội chiều 20/3Đây là lần đầu tiên ngày sức khỏe răng miệng thế giới được tổ chức tại Việt Nam.
Phó giáo sư Trịnh Đình Hải, Giám đốc Bệnh viện Răng-Hàm-Mặt Trung ương (Hà Nội) cho biết, có đến 90% người Việt Nam mắc các bệnh răng miệng như: sâu răng, viêm lợi và viêm quanh răng... Đặc biệt, tình trạng sâu răng sữa ở trẻ ở mức cao cho thấy các yếu tố nguy cơ sâu răng cao vẫn còn tiềm ẩn.
rang1-JPG[1160088494].jpg
Nhiều người dân chưa có thói quen đi khám sức khỏe răng định kỳ. Ảnh: N.P.
Một trong các nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do thói quen chăm sóc răng miệng không đúng cách. Có một tỷ lệ lớn người dân không đi kiểm tra sức khỏe răng miệng định kỳ và không được hướng dẫn cách chăm sóc. Chẳng hạn, cách đánh truyền thống theo kiểu kéo ngang tới lui như kéo đàn không những không giúp răng sạch mà còn khiến răng dễ bị mòn.
Một số người lại cho rằng phải đánh răng thật mạnh thì mới sạch. Trong khi đó, các mảng bám rất mềm chỉ cần chải nhiều lần nhẹ nhàng là tan hết. Thậm chí nhiều trẻ đã mọc hết răng nhưng cha mẹ vẫn chưa rèn cho con thói quen đánh răng sau khi ăn và trước khi đi ngủ. 
Các bệnh răng miệng còn là các ổ nhiễm khuẩn tiềm tàng trong khoang miệng, là nguyên nhân gây ra các bệnh nội khoa toàn thân như viêm cầu thận, viêm nội tâm mạc, viêm khớp, các bệnh đường tiêu hóa… Việc điều trị cho cả cộng đồng là rất khó khăn, tốn kém và thực tế cho thấy không nước nào có thể đáp ứng được nhu cầu điều trị. Chính vì thế, theo phó giáo sư Hải cần tăng cường hoạt động chăm sóc răng miệng cho trẻ em và cộng đồng. 
Đánh răng theo chiều dọc mới giúp loại bỏ hết chất bẩn. Nên đánh ở phần trong cùng (khó nhất) trước. Nguồn: Checkdent.
 
Theo bác sĩ Phạm Như Hải, Trưởng khoa răng Bệnh viện Hữu Nghị Việt Nam - Cuba (Hà Nội), trẻ mọc răng, biết nhổ nước ra ngoài mà không nuốt vào là có thể đánh răng và dùng kem đánh răng, không đánh thì hỏng răng. Nếu trẻ còn quá nhỏ, chưa biết súc miệng, nhổ bọt ra thì đánh bằng nước muối. Còn không thì dùng kem đánh răng dành riêng cho trẻ, sau 6 tuổi có thể dùng kem của người lớn.
Bên cạnh đó, không nên dùng tăm vì dễ gây hỏng lợi, thay vào đó dùng chỉ tơ nha khoa. Thời gian đánh răng ít nhất là 2 phút. Sử dụng bàn chải mềm và kem đánh răng có chất flour để làm sạch các mảng bám và đồ ăn dính. Thay bàn chải mới sau mỗi lần 3 tháng.
Ở những bề mặt tiếp xúc khi nhai thì cầm bàn chải ngang và đánh qua đánh lại. Ở mặt trong của các răng phía trước nghiêng bàn chải hơi đứng và dùng đầu bàn chải đánh nhẹ lên xuống. Đặc biệt, không quên chà lưỡi từ trong ra ngoài bằng động tác quét để lấy các mảng thức ăn còn dính và làm cho hơi thở khỏi bị hôi.
Nam Phương

Friday, March 15, 2013

Mật Ong và Quế


Mật Ong và Quế
Theo bài đăng trên tạp chí “Tin tức thế giới hàng tuần” (Weekly World News) ngày 17/01/1995 xuất bản tại Canada, đã liệt kê một số các chứng bệnh được chữa khỏi (cured) do hỗn hợp mật ong và bột quế, được các nhà khoa học Phương Tây nghiên cứu kỹ lưỡng và phổ biến ra công chúng. Theo họ thì mật ong đã được khắp thế giới biết và được xử dụng như là 1 loại dược chất sinh học (Vital medicine) từ nhiều thế kỷ trước. Ngày nay, qua khảo sát và nghiên cứu kiểm chứng, các khoa học gia đã nhận thấy và chấp nhận mật ong là 1 loại dược chất chữa được nhiều chứng bệnh.

Chữa bệnh bằng quế và mật ong

Điểm đặc biệt là mật ong không có phản ứng phụ đối với bất cứ căn bệnh nào. Trong đó người ta cho biết, dù mật ong tuy vị ngọt, nhưng nếu dùng với liều lượng vừa phải như là 1 loại dược chất, nó cũng sẽ không gây ảnh hưởng nguy hại cho người tiểu đường. 

Liều lượng và cách xử dụng được hưởng dẫn như sau:

1. Đau khớp xương

a) 1 phần mật ong, 2 phần nước ấm, 1 muỗng café bột quế. Trộn
  lại thành 1 hỗn hợp sền sệt rồi đắp lên chỗ đau nhức và thoa
  chầm chậm, nhè nhẹ. Cơn đau sẽ giảm nhẹ sau vài phút.

b) Người ta cũng có thể pha 2 muỗng café mật ong 1 muỗng café
  bột quế trong 1 ly nước nóng, uống đều đặn hàng ngày vào buổi
  sáng và buổi tối có thể giúp cho những người bị đau khớp xương
  kinh niên thoát khỏi các cơn đau.

Trong một công cuộc nghiên cứu tại Đại Học Copenhagen người ta đã ghi nhận rằng: các BS khi điều trị các bệnh nhân bị đau nhức với 1 hỗn hợp gồm: 1 muỗng mật ong và 1/2 muỗng café bột quế vào bữa điểm tâm, sau 1 tuần lễ, kết quả 200 người được điều trị 73 người đã hoàn toàn hết đau, và sau 1 tháng được chữa trị hầu hết các bệnh

2. Cao mỡ trong máu (High cholesterol)

2 muỗng soup mật ong, 3 muỗng café bột quế, 16 ounce nước trà. Quậy đều để cho người bị cao mỡ trong máu uống, sau 2 giờ, đo lượng Cholesterol trong máu người ta thấy giảm xuống 10%.

- Cũng theo tài liệu của tạp chí Weekly World News thì nếu người
bị cao Cholesterol dùng mật ong nguyên chất với thực phẩm hàng
ngày có thể giảm lượng cholesterol đáng kể.

- Đối với người bị đau khớp xương kinh niên, nếu uống theo công thức trên, 3 lần trong 1 ngày thì ngoài giảm bớt đau nhức khớp xương ra còn giảm được Cholesterol trong máu nữa.

3. Bệnh về tim mạch (Heart diseases)

Trộn mật ong và bột quế sền sệt rồi quết lên bánh mì thay cho mứt trái cây (Jelly Jam) dùng cho bữa điểm tâm mỗi sáng. Nếu ăn đều đặn như thế có thể làm giảm lượng Cholesterol trong các mạch máu, điều nầy giúp cho các bệnh nhân bị bệnh tim mạch tránh được chứng đột qụy (heart attack).

Nếu những ai đã từng bị đột qụy rồi thì có thể tránh xa được cơn đột qụy kết tiếp, khi tiếp tục ăn điểm tâm như kể trên.

4. Tăng cường hệ thống miễn nhiễm (Immune system)

Nếu dùng mật ong và bột quế hàng ngày sẽ giúp cho hệ thống miễn nhiễm được tăng mạnh thêm và giúp bảo vệ cho cơ thể khó bị vi trùng và siêu vi khuẩn tấn công.

Xử dụng mật ong đều đặn sẽ giúp cho bạch huyết cầu tăng thêm khả năng chống lại sự xâm nhập của vi trùng và siêu vi khuẩn trong các mầm bệnh.

5. Nhiễm trùng đường tiểu (Blađer infection) Bàng quang

Lấy 2 muỗng canh bột quế, 1 muỗng café mật ong, 1 ly nước ấm.
Quậy đều rồi uống cạn sẽ tiêu điệt được các vi trùng (Germ)
mầm bệnh trong bàng quan.

6. Nhức răng (Toothache)

Dùng 5 muỗng café mật ong, 1 muỗng café bột quế trộn lại với nhau thành hợp chất sền sệt rồi đắp lên chỗ răng đau. Làm như vậy 3 lần trong 1 ngày cho đến khi răng không còn đau nữa.

7. Cúm (Influenza). 
Một khoa học gia tại Tây Ban Nha (Spain) đã chứng minh rằng, trong mật ong có chứa 1 chất thiên nhiên có khả năng tiêu diệt được các mầm siêu vi của bệnh cảm cúm giúp cho người ta khỏi bị cúm (Flu).

8. Cảm lạnh (Colds)

Đối với những người bị cảm lạnh thường hay cảm nặng có thể dùng:
1 muỗng canh mật ong hâm ấm lên (Warm) và 1/4 muỗng café bột quế. Dùng liên tục trong vòng 3 ngày thì có thể chữa lành được các chứng ho kinh niên, và cảm lạnh cũng như chảy nước mũi cũng ngưng lại.

9. Các chứng về tiêu hóa )  Bao tử.

a) Bao tử khó chịu (Upset stomach): Mật ong và bột quế có thể
  chữa lành bệnh đau bao tử cũng như trị tận gốc bệnh bao tử.
b) Bao tử đầy hơi (Gas): Theo những nghiên cứu đã thực hiện tại
  Nhật Bản và Ấn Độ cho thấy, mật ong và bột quế đã làm hết bị
  đầy hơi trong bao tử.

c) Bột quế được trộn chung với 2 muỗng canh mật ong dùng trước
  khi tham dự 1 bữa ăn thịnh soạn nhiều thịt thà sẽ giúp cho người
  ta tiêu hóa được các bữa ăn đó dễ dàng.

10. Mệt mỏi (Fatigue).

Các nghiên cứu thấy rằng, chất ngọt trong mật ong giúp cơ thể con người tốt hơn là làm hại. Cho nên những người cao niên dùng mật ong và bột quế với tỉ lệ bằng nhau giúp cho họ dẻo dai và tinh tường hơn. Theo BS Milton sau khi đã nghiên cứu nói rằng: Khi người ta cảm thấy sự sinh động của mình bắt đầu suy giảm, hãy dùng hằng ngày, sau khi đánh răng vào buổi sáng và khoảng lúc 3 giờ chiều, 1 ly nước ấm trong đó pha 1/2 muỗng canh mật ong ngoáy đều với 1 muỗng café bột quế. Kết quả sẽ thấy sự sinh động của mình lên trở lại trong vòng 1 tuần lễ.

11. Kéo dài tuổi thọ (Longivety)

Khi uống nước trà pha với mật ong và bột quế đều đặn mỗi ngày, người ta có thể làm chậm sự lão hóa, kéo dài thêm tuổi thọ, theo công thức như sau: 4 muỗng mật ong, 1 muỗng bột quế bỏ vào 1 bình trong đó có 3 ly nước rồi đem đun sôi lên như người ta pha nước trà.

Cách dùng: Mỗi lần uống 1/4 ly, mỗi ngày 3 hay 4 lần. Kết quả tốt sẽ thấy là da dẻ hồng hào tươi trẻ, mịn màng. Thực thế tôi quen biết 1 vị cao niên tên là Cụ Mai Phương 86t, đã áp dụng phương pháp nầy hơn 20 năm nay. Cách uống là thêm vài giọt chanh vào ly nước trước khi uống, sức khỏe rất tốt.

12. Giảm cân, chống béo mập (Weight loss)

Hàng ngày 1/2 giờ trước khi ăn điểm tâm lúc bụng đói và 1/2 giờ trước khi đi ngủ hãy uống 1 lý nước đun sôi có pha 1 muỗng mật ong và 1 muỗng café bột quế. Nếu uống như vậy đều đặn hàng ngày thì ngay cả người bị béo phì cũng giảm chậm sự tích tụ chất béo trong cơ thê, và có hiệu quả ngay đối với người ăn các loại thực phẩm có nhiều Calories trong bữa ăn hàng ngày.

13. Da bị nhiễm trùng (Skin infection)

Khi da bị lát đồng tiền (Ring worm) và các loại nhiễm trùng da có
thể chữa trị bằng cách đắp lên vùng da bị nhiễm trùng 1 hỗn
hợp trộn mật ong và bột quế với phân lượng bằng nhau.

14. Trị mụn (Pimples)

Với công thức 3 muỗng canh mật ong và 1 muỗng café bột quế
trộn lại sền sệt bôi lên các mụn trước khi đi ngủ, sáng hôm sau rửa mặt bằng nước ấm. Làm như thế trong vòng 2 tuần lễ thì các mụn sẽ được trị tận gốc.

15. Trị hôi miệng (Bad breath)

Để trị hôi miệng, hơi thở được thơm tho, những người dân tại vùng Nam Mỹ (South America) đã làm việc đầu tiên vào buổi sáng là súc miệng với 1 ly nước nóng có pha với 1 muỗng café mật ong và bột quế quậy đều. Hơi thở của họ không hôi và thơm mùi quế suốt cả ngày.

16. Giúp phục hồi thính giác bị suy giảm, điếc (Hearing loss)

Hàng ngày uống đều đặn vào mỗi buổi sáng và buổi tối trước khi ngủ 1 ly nước ấm có pha mật ong và bột quế với phân lượng bằng nhau, sẽ phục hồi lại tình trạng thính giác (tai) bị điếc, nghễnh ngãng.

17. Rụng tóc và hói đầu (Hair loss & Baldness)

Những người bị rụng tóc hay hói đầu có thể dùng phương cách
sau đây:

Lấy 1 muỗng canh mật ong và 1 muỗng café bột quế trộn với dầu Olive thành 1 hỗn hợp rồi bôi lên đầu khoảng 15 phút, sau đó đi tắm và gội đầu. Kết quả ghi nhận là rất có hiệu quả, ngay cả khi đi tắm và gội đầu 5 phút sau khi bôi.

Ngoài ra bài báo còn nói đến hiệu quả tốt đẹp của việc xử dụng hỗn hợp mật ong và bột quế trong các trường hợp bị vô sinh (Infertility) và bệnh ung thư (Cancer).

18. Vô sinh (Infertility)

- Yunami & Ayurredic đã dùng mật ong từ lâu trong Y Học để giúp cho tinh dịch của người Nam (Male) được tăng thêm sức mạnh của nó.
- Người ta cũng ghi nhận người đàn ông bị bất lực, nếu uống 2 muỗng canh mật ong mỗi ngày trước khi đi ngủ thì tình trạng bất lực có thể được giải quyết tốt đẹp.
- Tại Trung Hoa , Nhật Bản và một số các nước vùng Viễn Đông,
đối với các phụ nữ không thể đậu thai từ nhiều thế kỷ đã được khuyên dùng bột quế để giúp cho buồng trứng và tử cung cải thiện dễ thụ tinh, mang bầu.

- Các phụ nữ không thể có bầu thì có thể dùng 1 Pinch bột quế
hòa với 1/2 muỗng café mật ong, rồi ngậm trong miệng thường
xuyên suốt ngàỵ 2 thứ nầy được trộn lẫn với nước bọt trong miệng rồi từ từ ngấm vào cơ thể để mang lại thuận lợi cho người phụ nữ đậu thai.

Người ta đã ghi nhận 1 cặp vợ chồng tại tiểu bang Maryland, Hoa
Kỳ; cưới nhau 14 năm không có con và họ gần như  tuyệt vọng...
Nhưng khi được mách bảo phương các dùng mật ong và bột quế, 2 vợ chồng đã cùng áp dụng phương pháp trên; chỉ vài tháng sau
người vợ đã mang thai và sinh đôi với 2 đứa con khỏe mạnh bình
thường.

19. Đối với bệnh ung thư (Cancer)

Những nghiên cứu mới đây tại Nhật Bản và Úc Châu đã ghi nhận
tình trạng ung thư bao tử và ung thư xương đang phát tác, đã
được điều trị 1 cách hiệu quả bằng mật ong và quế. Sau khi
những bệnh nhân đang mắc phải ung thư bao tử và xương dùng như sau:
Uống 1 muỗng canh mật ong và 1 muỗng café bột quế trộn đều, mỗi ngày 3 lần liên tiếp trong 1 tháng.

Phần cuối của tài liệu ghi chú:

Những ai đã có được các kết quả tốt từ tài liệu nầy, hãy truyền tay lại cho những người khác để cùng nhau hưởng lợi ích của Quế và Mật ong.
 

(Dịch từ tài liệu của Weekly World News, Canada, 17/01/1995)
http://tunthai.multiply.com/journal/item/7226/7226

Saturday, February 23, 2013

10 loại thực phẩm độc nhất thế giới


10 loại thực phẩm độc nhất thế giới


Không phải thực phẩm nào cũng an toàn như nhau. Ví dụ như cá nóc nổi tiếng là độc, đã từng gây ra không biết bao nhiêu cái chết. Song tựu trung lại thực phẩm nào cũng độc khi đã bị mốc. Có thể kể 10 loại thực phẩm nguy hiểm dưới đây.

10. Bạch tuộc sống 

 

Bạch tuộc là một trong những động vật thông minh nhất trên Trái đất, nó có bộ não khác trong hệ thống thần kinh. Những xúc tu (râu) vẫn hoạt động cho dù đã bị cắt rời.

Tại Hàn Quốc người ta có truyền thống ăn bạch tuộc sống. Người ta cắt nhỏ bạch tuộc, nhúng vào nước sốt đậu nành hoặc dầu vừng, thế là ăn. Con bạch tuộc chưa kịp chết đã bị đưa vào miệng, lúc này các xúc tu vẫn hoạt động, nó có thể bám vào cổ họng gây nghẹt thở.

Trung bình tại Hàn Quốc mỗi năm có 6 ca tử vong do ngạt thở vì ăn bạch tuộc sống. Thậm chí có những trường hợp xúc tu từ khoang miệng leo lên khoang mũi. Song vì họ quan niệm đây là một món ăn bổ dưỡng, nên họ cứ cố ăn.

9. Pho mát thối 

 

Trên đảo Sardinia, Italia, người địa phương hay ăn pho mát thối. Có lẽ vì là văn hóa ẩm thực truyền thống khó bỏ, dù mất vệ sinh.

Pho mát thối được chế biến từ sữa cừu. Trong quá trình lên men đã có nhiều ấu trùng ruồi sinh sống. Giòi và nước quả làm pho mát lên men nhanh hơn. Khi nó gần như nhão người ta sẽ ăn.

Hàng ngàn ấu trùng ruồi vẫn còn trong pho mát, thậm chí khi ăn pho mát còn bị ấu trùng nhảy từ đĩa thức ăn vào mặt. Để tránh cho mắt khỏi bị tổn thương, khi ăn pho mát người ta thường đeo kính để bảo vệ.

8. Cá hồi khô
 

 

Đến Scandinavia chúng ta có thể thưởng thức món cá hồi khô không ướp muối, được tẩy bằng dung dịch kiềm trắng bóng. Người ta đem thịt cá hồi khô ngâm vào dung dịch natri hydroxit  hoặc kali hydroxit, trong vài ngày.

Trong các dung dịch ấy, các protein bị phân huỷ làm nó phồng lên, nở ra trông trong như thạch. Nếu ngâm quá lâu chất béo của cá biến thành xà phòng. Sau đó bắt buộc phải ngâm trong nước cả tuần lễ để khi ăn người ăn không bị bỏng hóa chất.

Cuối cùng sản phẩm này có độ pH lên đến 12, tức là có độ kiềm lớn hơn nước lã 100 000 lần. Thịt cá hồi chế biến như vậy có thể ăn mòn dao kéo, thậm chí cả bạc và bất kỳ kim loại nào dùng để nấu nướng. Món cá hồi khô này rất nguy hiểm cho những người viêm loét dạ dày mạn tính.

7. Cà độc dược 





 

Tại châu Mỹ một bộ lạc da đỏ sử dụng quả cà độc dược để xác định cậu con trai đã trở thành đàn ông hay chưa. Cậu bé nếu còn sống khi vượt qua thử thách này, thì được tuyên bố rằng cậu đã trưởng thành.

Quả cà này chứa chất độc, gây sốt cao, mê sảng, tim đập rất nhanh, gây hành vi bạo lực, mất trí nhớ vĩnh viễn, khiến người ta rất khó chịu cả về thể chất và tinh thần.

Nó đã gây ra hàng ngàn cái chết do vô tình ăn phải quả cà độc dược. Như vậy người đươc coi là trưởng thành theo kiểu này mất đi vĩnh viễn kiến thức của một người bình thường.

6. Trà Urushi





 


Tại Nhật Bản, người ta sử dụng chè này như hình thức ép xác trong đạo Phật. Các nhà tu hành được gọi là đắc đạo dùng trà này để tự chết rồi ướp xác.

Trà lấy từ cây  sơn Trung Quốc, và cây thường xuân có chất độc  tập trung ở nhựa  (urushiol), có tính ăn da, dùng để trị kí sinh trùng. Sau khi dùng trà các chất lỏng trong cơ thể ngừng lưu thông sau đó khô kiệt ngay lập tức, và thịt còn lại rất độc.

Sở dĩ trà có tác dung ướp xác, vì thi hài sẽ không phân hủy nữa, thậm chí giòi bọ cũng không sống được. Ngày nay tại Nhật Bản dùng trà này là phạm pháp.

5. Nọc nhện

 

Từ hàng chục ngàn năm trước con người đã có cách tránh thai bằng nọc độc của một số loài chân đốt. Khi bị tiêm nọc độc của chúng vào cơ thể thì nồng độ hoc-môn trong cơ thể người phụ nữ làm cho trứng không thụ thai được.

Loài sóc  biết phá thai khi mùa đông gần đến bằng cách để cho nhện cắn, và khi bị tiêm nọc độc vào cơ thể, nó sẽ bị sảy thai. Việc tránh thai của con người sau này ít cực đoan hơn so với thời xưa.

Họ không dùng các chất độc như nọc nhện nữa, mà chỉ cần ăn một chút ăngtimoan, một nguyên tố hóa học có ký hiệu Sb. Thời trung cổ người châu Âu ăn ăngtimoan với liều lượng rất nhỏ, chỉ đủ để tránh thai.

4. Đậu da sóc 


Đậu da sóc đươc trồng ở vùng nhiệt đới châu Phi, có độc tính cao. Khi ăn nó gây co thắt cơ, co giật, mất kiểm soát hệ hô hấp, do phá hủy hệ thần kinh, có thể gây tử vong vì ngạt thở.

Người Calabar sử dụng đậu làm cách thử nghiệm để chứng minh có tội hay vô tội của một kẻ nào đó bị nghi ngờ. Nếu người bị cáo buộc phạm tội, nhưng không đủ bằng chứng để kết tội, ví dụ người bị buộc tội là phù thủy người ta dùng đậu dể xử án.

Bị cáo phải nuốt những hạt đậu này và chờ đợi kết quả. Nếu họ bị chết, thì coi là đã phạm tội. Nếu chất độc chỉ làm cho họ bị co thắt cơ và ói mửa ra những hạt đậu này trước khi chất độc ngấm  vào cơ thể thì họ được tuyến bố vô tội.

3. Ăn thịt đồng loại 

 

Trong lịch sử loài người khi một nhóm bị rơi vào tình thế nguy hiểm hay bị đói, thì trong đám đông ấy họ phải ăn thịt một người. Ví dụ như thành phố bị vây hãm, không có con đường nào để lựa chọn, buộc phải ăn thịt đồng loại để tồn tại.

Ăn thịt người là vô cùng độc.  Bệnh Prion dễ dàng lây truyền trong cả nhóm. Nó tương tự như bệnh bò điên, dù có nấu chín cũng không ngăn ngừa được bệnh. Đó là bệnh làm cho não bị hư hỏng, dần dần nó xốp như miếng bọt biển. Cuối cùng  nạn nhân phải chịu một cái chết đau đớn.

Cho đến tận năm 1950 người Fore ở Papua New Guinea vẫn còn ăn thịt đồng loại trong tang lễ, họ coi người chết là một nguồn thực phẩm. Phong tục ghê rợn này chấm dứt khi bị chính quyền cấm.

2. Tôm cay 

 

Có những người chủ động tìm kiếm các thực phẩm có chứa những hóa chất, gây đau nhức cho cơ thể khi đã ăn nó. Allyl isothiocyanat (AITC), một chất dầu không màu, khai thác từ cải dầu gọi là mù tạt, cay đến chảy cả nứơc mắt, nước mũi.

Dầu mù tạt gây chết người lớn hơn asen (thạch tín) đến 5 lần. Món ăn đặc trưng tại St Elmo Steak House (Mỹ) là có loại tôm cay có chứa tới 9kg mù tạt xay nhỏ từ dầu cải ngựa. Khi ăn món này cảm giác giống như bị điện giật.

1. Ớt

 

Ớt là độc dược, mạnh hơn mù tạt đến 3 lần. Đây là hóa chất nguy hiểm nhất được tìm thấy trong bất kỳ nguồn thức ăn nào của con người trên trái đất. Một lượng nhỏ hơn 4g đã đủ giết chết một người đã trưởng thành.

Người ta sử dụng ớt để gia tăng sự cay nóng. Ớt được trồng nhiều ở Ấn Độ, Bangladesh, là loại ớt rất cay. Nó dùng để ngăn chặn những đàn voi từ rừng kéo ra phá phách mùa màng. Quân đội Ấn Độ đang lên kế hoạch dùng ớt làm vũ khí.
Nguyễn An
http://www.khoahoc.com.vn/doisong/yhoc/suc-khoe/42385_10-loai-thuc-pham-doc-nhat-the-gioi.aspx

Friday, February 22, 2013

Vì sao nên ăn đậu?

Nên ăn đậu       
BS Nguyễn Ý Đức
Hỏi 
Tôi bị bệnh tiểu đường từ hơn 10 năm và mới đi khám bác sĩ gia đình về, và bà ấy có khuyên tôi là nên ăn nhiều các loại hạt đậu. Theo bà ấy thì đậu có nhiều chất đạm tốt và cũng giảm đường trong máu. Có đúng không bác sĩ. Xin bác sĩ giải thích dùm nhé. Ông Nghi- GA
Đáp
Đúng như bác sĩ của ông nói, đậu là một loại thực phẩm có nhiều tác dụng tốt đối với cơ thể, đặc biệt là bệnh nhân bị bệnh tiểu đường. Sau đây chúng tôi xin trình bầy cặn kẽ để bà và quý độc giả Trẻ hiểu rõ.
Đậu được trồng ở khắp nơi trên thế giới và có tới trên mười ngàn loại khác nhau. Tuy nhiên các bà nội trợ thường chỉ quen thuộc với một số ít các loại đậu như là đậu hà lan, đậu tây (cô ve), đậu đen, đậu đỏ, đậu pinto, đậu ngự, đậu nành…
Hạt đậu nằm trong vỏ dài mà khi chín khô sẽ nứt ra làm đôi. Theo các nhà khảo cổ thì đậu được trồng trước tiên ở các quốc gia Đông Nam Á châu từ cả chục ngàn năm về trước. Nhiều nơi, đậu được gieo giữa hai luống ngô, vì đậu có thể hấp thụ nitrogen từ không khí, tồn trữ dưới đất và làm đất giầu thêm chất này để giúp ngô tăng trưởng.

Giá trị dinh dưỡng
Hạt đậu là nguồn dinh dưỡng rất phong phú, ngon mà tương đối lại rẻ tiền.
Đậu nành cung cấp đủ các loại amino acid thiết yếu mà cơ thể cần. Đậu có nhiều calci, cho nên các vị tu hành, người ăn chay có thể sống lành mạnh chỉ với đậu hũ và các loại sản phẩm khác của đậu nành. Nói chung, đậu có lượng đạm chất cao hơn các các loại ngũ cốc khác từ hai đến năm lần.
Hạt đậu có nhiều sinh tố nhóm B, nhiều sắt, kali, rất nhiều chất xơ. Đa số hạt đậu đều có rất ít chất béo và năng lượng, ngoại trừ đậu nành và đậu phộng lại có nhiều chất béo tốt ở dạng chưa bão hòa.
Đậu có ít năng lượng nhưng chứa nhiều nước.
Một trăm gram đậu nấu chín cung cấp khoảng 100-130 Calori và 7 gram chất đạm, tương đương với số đạm trong 30 gram thịt động vật. Đậu nẩy mầm có nhiều đạm hơn đậu nguyên hạt. Khi ăn chung đậu với các loại hạt, đạm của đậu có phẩm chất tương đương với đạm động vật.
Người Bắc Mỹ và người châu Âu ít chú ý đến các loại đậu vì phải mất nhiều thời gian để nấu hoặc phải ngâm đậu trước khi nấu.
Để tiết kiệm thì giờ, dùng đậu chế biến nấu sẵn đựng trong hộp rất tiện lợi: chỉ cần đổ bớt nước mặn trong đậu hoặc rửa đậu cho bớt mặn rồi nấu.
Nhưng người Nam Mỹ và Á Châu xem các loại hạt đậu là một thành phần quan trọng của lương thực.
Ở Châu Mỹ La Tinh, từ Mễ Tây Cơ xuống đến Trung Mỹ, Nam Mỹ, đâu đâu cũng thấy có đậu đen và đậu đỏ (black and red beans) trong các bữa ăn.
Ở Ấn Độ, đậu lăng (lentil) được ăn trộn với gạo và rất phổ biến. Nhật Bản có loại đậu màu nâu gọi là azuki được ăn với cơm.
Ưu điểm của đậu
1. Đậu chứa một loại chất xơ gọi là pectin. Chất xơ này có khả năng hút nước và nở ra trong dạ dày khiến người ta có cảm giác no không thèm ăn. Nó cũng làm chậm tiến trình hấp thụ thực phẩm trong ruột, giúp bệnh nhân tiểu đường tránh được sự tăng gia quá mau đường huyết, và cơ thể khỏi phải tiết ra nhiều insulin.
Các loại đậu chứa nhiều pectin có thể giữ vai trò quan trọng trong sự làm giảm lượng cholesterol trong máu, còn tốt hơn cả loại cám yến mạch (oat bran).
Trong các loại đậu, đậu nành được xem là hữu hiệu nhất để giảm cholesterol và triglyceride trong máu.
Nghiên cứu ở Ý và Thụy Sĩ cho thấy là, bệnh nhân có cholesterol cao, mà ăn nhiều chất đạm từ đậu nành thay thế cho thịt cá, thì mức cholesterol của họ giảm xuống đến 31%. Kết quả này xem ra còn tốt hơn tác dụng của các loại thuốc giảm cholesterol đắt tiền bán trên thị trường.
Bác sĩ James Anderson thuộc Đại học Kentucky, khuyên bệnh nhân mỗi ngày ăn một cốc đậu pinto nấu chín để hạ cholesterol.
2. Cũng theo bác sĩ Anderson, ăn đậu thường xuyên giảm nhu cầu Insulin để chữa bệnh tiểu đường, vì đậu làm đường trong máu tăng lên rất chậm.
3. Gần đây các nhà khoa học lại mới tìm ra một tác dụng vô cùng bổ ích của các hạt đậu, đó là khả năng chống ung thư. Đậu có chứa chất acid phytic, một chất chống oxy hóa rất mạnh, có thể chận đứng tiến trình ung thư hóa của tế bào.
Ngoài ra, khảo cứu trên một số động vật trong phòng thí nghiệm cho thấy đậu, nhất là đậu “pea” và đậu lăng “lentil” có chứa chất ức chế protease là chất có khả năng phòng chống ung thư da, vú và gan ở động vật. Thử nghiệm ở người cũng thấy tác dụng tương tự về phòng chống ung thư vú và nhiếp hộ tuyến.
Chuyên gia về ung thư Anne Kennedy cho chuột ăn một hóa chất gây ung thư, nhưng khi chất ức chế protease được bôi vào miệng chuột thì ung thư không xẩy ra.
4. Đậu giúp đại tiện đều đặn, dễ dàng vì phẩn to hơn, mềm hơn, từ đó giảm thiểu được các nguy cơ ung thư ruột già và trực tràng. Đó là kết quả các nghiên cứu của Tiến sĩ Sharon Fleming, Đại học Berkeley, California.
5. Một khoa học gia Ấn Độ là SN. Sanyaldan nhận thấy dân số của người Tây Tạng không thay đổi trong suốt 200 năm. Thực phẩm chính của họ là một loại đậu. Sau nhiều năm tìm hiểu, ông ta thấy rằng đậu này có khả năng ngăn ngừa sinh đẻ nhờ hóa chất m-xylohydroquinone. Ông ta thử cho phụ nữ dùng chất này thì tỷ lệ sinh đẻ giảm hẳn, còn với nam giới thì chất này cũng làm cho số lượng tinh trùng giảm. Nhận xét này đang được nghiên cứu kiểm chứng thêm. Ngoài ra có lẽ tác dụng của nó không mạnh bằng các dược phẩm ngừa thụ tinh hiện có, nên ít ai để ý đến…
Coi vậy thì các loại đậu đều rất tốt cho cơ thể. Chúng tôi nghĩ là ông có thể làm theo như lời khuyên của vị bác sĩ gia đình. Nhưng cũng xin đừng quên dùng thuốc hạ đường huyết đều đặn và dành thời gian để vận động cơ thể mỗi ngày.
Chúc ông mọi sự bình an.
Bs Nguyễn Y Đức

Các tin khác (bấm vào các links sau để đọc nội dung):
  1. Bà con chú ý đừng nên có thói quen ăn ăn tối muộn rất nguy hiểm
  2. Lợi ích và tác hại khi tắm nước nóng
  3. Hội Đồng Y Khoa của Tiểu Bang California (Medical Board Of California) đã ký một văn bản công nhận một công nghệ kỹ thuật mới gọi tên là Acrysof ReSTOR Lens do một Bác sĩ người Mỹ gốc Việt phát minh, đó là Bác sĩ Phạm Hoàng Tánh, chủ tịch Hội Y-Bác-Sĩ người Mỹ gốc Việt Bắc California.
  4. Đau Lòng Bàn Chân
  5. Đau lưng
  6. Có 8 nơi công cộng mà ai cũng phải cảnh giác, vì ở đó … lúc nhúc những vi trùng!
  7. MẸO VẶT: 10 ngày chữa hết sạch bệnh chai chân
  8. Trí Nhớ > Sáu Bước Đơn Giản Để Giữ Đầu Óc Minh Mẫn
  9. 5 sai lầm của những người “ngồi văn phòng” và lợi ích của người uống bia7 triệu chứng không ngờ của bệnh tim

8 loại rau ngăn ngừa ung thư + 10 lợi ích của trái xoài

Với một số loại ung thư phổ biến, đều có một thực phẩm gánh vác nhiệm vụ phòng bệnh quan trọng.  Chế độ ăn uống và ung thư cũng có mối quan hệ chặt chẽ. Ăn uống không đúng cách là một trong những nguyên nhân gây ung thư, ngược lại, ăn uống đúng cách có thể đem lại hiệu quả chống ung thư.


Ung thư phổi => Thực phẩm hàng đầu: Rau bina

 Lý do:Rau bina có chứa nhiều chất chống oxy hóa, giúp ngăn ngừa thiệt hại bởi gốc tự do gây ra. Ăn một bát rau bina mỗi ngày sẽ giảm nguy cơ ung thư phổi ít nhất là 50%. Ngoài ra, cà chua, cà rốt, bí đỏ, lê và táo cũng có thể ngăn chặn sự xuất hiện loại ung thư này.
Ung thư vú => Thực phẩm hàng đầu: Rong biển

  Lý do:Rong biển không chỉ giàu vitamin E và chất xơ, mà còn phong phú về hàm lượng i-ốt. Các nhà khoa học tin rằng thiếu hụt i-ốt là một trong những yếu tố nguy cơ của ung thư vú, do đó, ăn rong biển có thể giúp ngăn ngừa ung thư vú. Lý do phụ nữ Nhật Bản có tỷ lệ mắc ung thư vú thấp hơn so với phụ nữ ở các quốc gia khác có thể liên quan đến việc tiêu thụ rong biển. Trong khi đó, khoai lang, cà chua, đậu cũng là những thực phẩm có thể ngăn ngừa ung thư vú.


Ung thư ruột =>  Thực phẩm hàng đầu: Cây sả

Lý do: Cây sả, cần tây là những thực phẩm giàu chất xơ, khi vào trong ruột có thể đẩy nhanh tốc độ làm sạch các thức ăn thừa trong ruột, giảm cá chất độc hại và thúc đẩy bài tiết cực kỳ hiệu quả, phòng chống ung thư đại trực tràng. Ngoài ra, tiêu thụ tỏi thường xuyên cũng giúp bạn giảm 30% nguy cơ ung thư ruột kết. Bên cạnh đó, khoai lang, cải bắp, lúa mì lại là những thực phẩm cực kỳ quan trọng trong việc ngăn ngừa ung thư đại trực tràng.

Ung thư tuyến tụy => Thực phẩm hàng đầu: Súp lơ

Lý do:Hội Ung thư Quốc gia Hoa Kỳ gần đây đã chỉ ra rằng ăn súp lơ và các thực phẩm họ cải khác có thể làm giảm nguy cơ ung thư tuyến tụy. Trong những năm gần đây, các nghiên cứu cho thấy, củ cải cũng đóng góp vào việc gia tăng sức đề kháng của bệnh nhân bị ung thư tuyến tụy.
Ung thư da => Thực phẩm hàng đầu: Măng tây

Lý do:Măng tây là trong những loại rau đầu bảng giàu vitamin, axit nucleic và các thành phần khác có tác dụng nhất định trong phòng chống ung thư hạch, ung thư bàng quang, ung thư da.

Ung thư cổ tử cung (UTCTC) => Thực phẩm hàng đầu: Đậu nành

Lý do:Đậu phụ, sữa đậu nành được làm bằng đậu nành (đậu tương), có chứa isoflavone, lignin được coi là có tác dụng chống oxy hóa, có thể ức chế sự phát triển của UTCTC, giảm phân chia tế bào ung thư, đồng thời có ngăn chặn sự di căn của khối u hiệu quả. Ngoài ra, cà chua cũng là thực phẩm phòng ngừa UTCTC tốt.
Ung thư dạ dày => Thực phẩm hàng đầu: Tỏi

  Lý do: Những người hay ăn tỏi sống có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày là rất thấp, bởi vì tỏi có thể làm giảm đáng kể hàm lượng nitrit trong dạ dày - mộ trong những nguy cơ làm gia tăng ung thư dạ dày. Những người thường xuyên ăn hành cũng có tỷ lệ mắc ung thư dạ dày thấp hơn 25% so với nhóm người còn lại. Ngoài ra, ăn thức ăn ít muối, cá hun khói, cá nướng cũng là một cách tốt để ngăn chặn ung thư dạ dày.

Ung thư gan => Thực phẩm hàng đầu: Nấm

 Lý do:Nấm có chứa các lớp polysaccharide giúp ức chế hoạt động của các chất gây ung thư, có thể thúc đẩy hình thành kháng thể để cơ thể tạo ra miễn dịch với khối u, ức chế tế bào ung thư tăng trưởng để có thể đề kháng với nhiều loại ung thư, bao gồm ung thư hạch, ung thư ruột kết, và đặc biệt có lợi cho các bệnh nhân ung thư gan.


 Mười lợi ích của trái XOÀI
                                                                
Ăn xoài thường xuyên là cách để bạn giúp cơ thể chống lại nhiều căn bệnh đáng sợ như ung thư, tiểu đường, bệnh tim…

Xoài là loại trái cây phổ biến nhất thế giới vì hương vị độc đáo và giá trị dinh dưỡng tuyệt vời của nó. Một cốc xoái có thể cung cấp 25% lượng vitamin C cơ thể cần mỗi ngày, 2/3 vitamin A và một lượng lớn vitamin B6, vitamin E, pectin, phốt pho, kali và
magiê.

1. Ngăn chặn ung thư;
Các hợp chất phenolic được tìm thấy trong xoài như quercetin, isoquercitrin, astragalin, fisetin và methylgallat đã được chứng minh là có đặc tính chống oxy hóa và chống ung thư. Xoài cũng là loại trái cây có hàm lượng pectin cao. Các cuộc nghiên cứu đã chỉ ra rằng, pectin có tác dụng giúp cơ thể chống lại ung thư đường tiêu hóa.


2. Hỗ trợ tiêu hóa
Xoài là loại trái cây rất hữu ích trong việc điều trị các bệnh về tiêu hóa.Trong xoài có chứa các enzyme giúp phá vỡ protein, tạo điều kiện thuận lợi cho sự hấp thụ vào cơ thể, chất xơ có trong xoài cũng giúp ích rất nhiều trong việc hỗ trợ hệ tiêu hóa làm việc.


3. Ngăn ngừa bệnh tim
Xoài là loại trái cây tuyệt vời cung cấp vitamin A, E và selen cho cơ thể và giúp chống lại bệnh tim. Xoài cũng rất giàu vitamin B6, đóng vai trò quan trọng trong việc ngăn ngừa bệnh tim bằng cách giảm mức độ homocysteine. Homocysteine ​​là một axit amin trong máu gây tổn thương mạch máu.

4. Giảm LDL cholesterol
Hàm lương pectin và vitamin C cao có trong xoài giúp làm giảm mức LDL cholesterol trong cơ thể, đặc biệt là LDL cholesterol xấu.

5. Làm giảm huyết áp
Xoài có hàm lượng kali cao, vì vậy mà nó có thể điều chỉnh huyết áp. Do đó, ăn xoài thường xuyên là cách để bạn giảm huyết áp mà không phải lo lắng đến tác dụng phụ.

6. Cải thiện trí nhớ
Xoài có chứa axit glutamine, một loại chất được biết đến với tác dụng cải thiện trí nhớ và giữ cho các tế bào não hoạt động. Ăn xoài thường xuyên là cách để chiến đấu với căn bệnh giảm trí nhớ khi có tuổi.


7. Giảm nguy cơ mắc bệnh tiểu đường
Lá xoài có tác dụng làm bình thường hóa nồng độ insulin trong máu. Đun sôi lá xoài trong nước khoảng 15 phút, để nó qua đêm và uống nước này vào sáng hôm sau. Điều này sẽ làm giảm lượng đường trong máu.


8. Tăng cường sức khỏe của đôi mắt
Xoài có nhiều nhiều vitamin A, một chất chống oxy hóa mạnh mẽ giúp tăng cường sức khỏe của đôi mắt
và bảo vệ mắt chống lại sự thoái hóa điểm vàng liên quan đến tuổi tác.

9. Mang lại nhiều lợi ích cho làn da
Xoài là loại trái cây tốt cho làn da, bởi chúng có hàm lượng vitamin A cao.

Chúng kích thích quá trình tuần hoàn máu ở màng nhầy và da, từ đó làm giảm tắc nghẽn lỗ chân lông, một hiện tượng khiến làn da bị tổn hại.

10. Xử lý tình trạng thiếu máu
Xoài có nhiều chất sắt, vì vậy mà chúng có thể giúp cơ thể khắc phục tình trạng thiếu máu, đặc biệt là thiếu máu do thiếu sắt. Vitamin C có trong xoài giúp tăng cường hấp thụ sắt. Vì vậy mà xoài là loại trái rất có lợi đối với phụ nữ mang thai và những người bị thiếu máu.


http://utupktl.multiply.com/journal/item/107/107

Điều trị bệnh Alzheimer từ những dấu hiệu đầu tiên


Alzheimer là hiện tượng thoái hóa não bộ không có khả năng phục hồi ở người cao tuổi, gây nên chứng mất trí và sa sút trí tuệ. Những tổn thương ở tế bào thần kinh vỏ não và các cấu trúc xung quanh làm sa sút trí nhớ, suy giảm sự phối hợp vận động, giảm cảm nhận của các giác quan…, dần dần dẫn đến tình trạng mất trí nhớ và mất các chức năng tâm thần kinh.

Ca bệnh Alzheimer đầu tiên được phát hiện vào năm 1907. Từ đó đến nay, số lượng bệnh nhân ngày càng gia tăng, nhất là khi tuổi thọ của con người ngày càng tăng nhờ vào tiến bộ của ngành y tế.
Theo thống kê năm 2005 tại châu Âu, số lượng người bị bệnh Alzheimer tăng cao hơn so với các bệnh lý phổ biến khác như đột quỵ, tiểu đường, ung thư vú… Trên thế giới, tỷ lệ người dưới 70 tuổi mắc bệnh này là 5% và trên 80 tuổi là 40 – 50%.
Theo dự đoán của các nhà khoa học Hoa Kỳ, từ nay đến năm 2030, số lượng bệnh nhân Alzheimer ở nước này sẽ khoảng 600 ngàn người, trong đó 50% là bệnh nhân trên 85 tuổi.

Dự đoán những dấu hiệu sớm
Hiện tại, y học vẫn chưa có thuốc chữa khỏi hoàn toàn bệnh Alzheimer, nhưng có thể điều trị triệu chứng và chăm sóc hiệu quả cho người bệnh khi sớm phát hiện những dấu hiệu bệnh.
Từ 55 đến 60 tuổi, chúng ta cần khám chuyên khoa để nhận biết những dấu hiệu của rối loạn trí nhớ như suy giảm nhận thức nhẹ (Mild Cognitive Impairment – CMI), nhất là khi có các biểu hiện sau đây:
- Cuộc sống bị đảo lộn do suy giảm trí nhớ (quên những sự việc mới vừa nhắc đến, quên tên người quen, quên công việc quan trọng cần làm…).
- Không thể tập trung hoặc tự xây dựng và thực hiện kế hoạch làm việc (giảm khả năng hoạch định kế hoạch, liên tục không thể hoàn thành nhiều công việc do khó tập trung và không biết nên giải quyết việc đó như thế nào, ngay cả những việc đơn giản và quen thuộc).
- Nhầm lẫn các thời điểm trong ngày (sáng tưởng là trưa hoặc tối), đôi khi quên mình đang ở đâu và cần đến đâu.
- Mắt nhìn kém vì bị đục thủy tinh thể, do đó khó đọc chữ, không phân biệt được màu sắc, khó nhận biết khoảng cách xa gần…
- Khả năng ngôn ngữ kém (nói và viết khó khăn vì không thể tìm ra đúng từ để diễn đạt ý muốn nói, nói chuyện thiếu tính logic).
- Ngày càng xa lánh mọi người, tránh tiếp xúc với người thân, bạn bè, không còn hứng thú với những thú giải trí quen thuộc.
- Tính khí thay đổi thất thường, thường hay cáu kỉnh, nghi ngờ, phiền muộn, lo âu, sợ hãi không có lý do.
Vai trò của gia đình trong điều trị
Việc điều trị bằng thuốc chỉ đạt hiệu quả cao trong những giai đoạn khởi phát của bệnh. Trên thị trường hiện có các loại thuốc giúp kích thích não tiết ra nhiều Acetylcholin (chất có vai trò dẫn truyền thông tin) giúp cải thiện chức năng hoạt động của não nhằm giảm bớt tình trạng suy giảm trí nhớ và tăng khả năng tư duy của người bệnh. Tuy nhiên, các loại thuốc trên chỉ tác động tốt trong giai đoạn người bệnh mới bị Alzheimer.
Trong việc điều trị bệnh này, việc theo dõi và kiên nhẫn chăm sóc của người thân có vai trò vô cùng quan trọng. Ở giai đoạn đầu, người bệnh có thể tự khắc phục tình trạng suy giảm trí nhớ của mình bằng cách lập bảng ghi nhớ, ghi vào sổ tay và nhờ mọi người xung quanh nhắc nhở.

Ngoài ra, bệnh nhân cần thay đổi lối sống bằng cách thực hiện các biện pháp giảm căng thẳng (câu cá, nghe nhạc, tập yoga), đi dạo thường xuyên, làm các bài tập trí nhớ (chơi đố ô chữ, sudoku)…
Khi bệnh đã chuyển sang giai đoạn nặng thì người bệnh rất dễ rơi vào trạng thái nguy hiểm như bị trầm cảm, đi lạc, thậm chí muốn tự tử… nên rất cần sự giám sát liên tục của người thân. Nên cho bệnh nhân đeo vòng có ghi rõ địa chỉ, số điện thoại để dễ tìm khi người bệnh đi lạc.
Ngoài các phương pháp trên, hiện các nhà khoa học trên thế giới đang tập trung nghiên cứu thêm các phương pháp phòng ngừa và điều trị khác cho căn bệnh này. Nhìn chung, các kết quả thu được là khả quan.
Phòng bệnh Alzheimer
Do còn nhiều hạn chế trong điều trị bệnh Alzheimer nên việc phòng ngừa bệnh vô cùng quan trọng, có vậy người bệnh mới không trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội. Dưới đây là một số nguyên tắc giúp phòng bệnh Alzheimer:
Năng tập luyện thể chất và tinh thần. Hoạt động thể chất thường xuyên giúp lưu thông máu và dưỡng chất đến cho não tốt hơn, giúp mô não khỏe mạnh và tăng cường khả năng phòng chống bệnh tật, đồng thời giúp não thực hiện tốt các chức năng thần kinh.
Vì vậy, giới chuyên môn khuyến cáo là mọi người, đặc biệt là nhóm người trung niên trở lên nên luyện tập thể thao đều đặn, đi bộ hoặc chạy bộ từ 30 đến 60 phút mỗi ngày.
Nghiên cứu của các bác sĩ ở Đại học Pittsburgh (Canada) cho thấy đi bộ nhiều có thể làm giảm nguy cơ bị Alzheimer. Đi bộ ít nhất tám cây số mỗi tuần có thể giúp tăng chức năng của não đến mười năm, đặc biệt là các khu vực vỏ não có nhiệm vụ lưu giữ ký ức và trung tâm tư duy.
Không ngừng tiếp thu kiến thức mới. Nên thường xuyên bổ sung kiến thức bằng cách đọc sách, tự mày mò, tìm tòi để giúp bộ óc không bị trì trệ và suy giảm trí nhớ cũng như khả năng tư duy.
Thực tế cho thấy những người cao tuổi thường xuyên dùng máy tính làm việc, đọc truyện, xem tin tức, chơi cờ, làm thơ… thì đầu óc tỏ ra minh mẫn hơn nhóm người không có thói quen này.
Tìm cách thoát khỏi áp lực. Stress và trầm cảm là nguyên nhân làm tăng nguy cơ bệnh Alzheimer. Tình trạng stress liên tục làm cho cơ thể bài tiết nhiều hormone cortisol, tác động xấu đến vùng não đảm nhận chức năng nhắc nhớ và tư duy, gây tình trạng rối loạn và làm cho trí nhớ suy giảm đáng kể.
Chú ý đến việc ăn uống. Các nhà nghiên cứu về bệnh Alzheimer đã chỉ ra rằng càng ăn ít mỡ động vật thì tỷ lệ bệnh càng giảm. Một bằng chứng rõ ràng là tỷ lệ người Nhật sống tại Mỹ bị bệnh Alzheimer cao gấp hai lần so với người Nhật sống tại quê hương họ.
Không hút thuốc láNhững người hút thuốc lá và cả những người hít phải khói thuốc lá hằng ngày có khả năng bị mắc bệnh Alzheimer cao gấp hai lần những người sống trong môi trường bình thường không có khói thuốc.
Bổ sung vitamin EVitamin E có nguồn gốc chống oxy hóa, giúp làm chậm quá trình suy giảm trí nhớở con người, tức là có tác dụng ngăn ngừa bệnh Alzheimer.
Các chất chống oxy hóa có sẵn trong cơ thể thường xuyên làm nhiệm vụ kích thích hoạt động của vùng não có chức năng về trí nhớ và khi cơ thể được bổ sung vitamin E thì cơ chế trên lại càng hiệu quả và làm giảm bệnh.
Vitamin E có nhiều trong các loại thực phẩm: đậu tương, giá đỗ, vừng, lạc, hạt hướng dương…
- Sử dụng nhóm thuốc NSAID. NSAID (Non-Steroidal Anti-Inflamamatory Drug) là nhóm thuốc kháng viêm và giảm đau thường được bác sĩ kê đơn giảm đau cho người bệnh, từ đau đầu, đau lưng cho đến đau xương khớp.
Theo nghiên cứu của các chuyên gia tại Đại học Y Harvard (Mỹ), nhóm bệnh nhân mắc bệnh viêm khớp dạng thấp nếu dùng nhóm thuốc này có khả năng giảm được tới 50% rủi ro mắc bệnh Alzheimer.
Trong thực tế, những người đã mắc bệnh Alzheimer nếu dùng Aspirin hoặc các thuốc NSAID thì khả năng ngôn ngữ và các chức năng thần kinh được cải thiện rõ rệt, trí nhớ được tăng cường, minh mẫn hơn so với những người không dùng thuốc đó.
BS. HUỲNH HẢI NAM/DNSGCT

http://htkt29.multiply.com/journal/item/255/255